Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong xã hội hiện đại mới nhất

Tiếng Việt hàng ngày vẫn sáng trên môi ta, là thước đo tâm hồn Việt, là dòng chảy bất tận trong tác phẩm văn chương, trong bao lời ca, tiếng hát, lời ăn tiếng nói hàng ngày.


Vẻ đẹp lung linh, tinh tế của tiếng Việt

Ngay từ thời Thơ mới (1932-1945), trong bối cảnh đất nước chưa được độc lập, tác phẩm của hầu hết các nhà thơ đương thời đều vướng một nỗi buồn bao trùm, Hoài Thanh đã tâm sự: “Bi kịch ấy họ cũng gửi vào tiếng Việt. . Họ yêu ngôn ngữ đến nỗi mấy chục năm nay họ đã cùng cha chia sẻ buồn vui Họ đặt tình quê hương vào trong tình yêu Tiếng Việt . Tiếng Việt họ cho rằng tơ lụa đã khơi nguồn cho những tâm hồn ngàn xưa đến lượt họ cũng muốn mượn tâm hồn chung để gửi gắm những trăn trở riêng” (Một Tuổi Thơ) Còn Huy Cận lại thể hiện tình yêu của mình với tiếng Việt bằng những lời ấm áp: “Nằm trong tiếng thương/ Nằm trong tiếng Việt suốt đời / Con mới lọt lòng mẹ / Hồn thiêng Tổ quốc ngồi bên con / Ngày tháng con cùng mẹ khôn lớn / Yêu thơ, thơ kể lại hồn cha / Đời bao cảm xúc thiết tha / Nói trong tiếng nói của trái tim tôi theo thời gian” (Nằm trong giọng nói).



Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tình yêu tiếng Việt vẫn nồng nàn hiện lên trên những trang viết của Nguyễn Tuân. Trong bài “Về tiếng nước ta” viết năm 1966, nhà văn đã đưa ra nhiều ví dụ minh chứng cho vẻ đẹp, sự phong phú và tinh tế của tiếng Việt như những biểu hiện về cái chết, gen di truyền, sức khỏe. sức gợi cảm của một câu thơ trong “Chinh phụ ngâm” hay “Truyện Kiều”… Nguyễn Tuân cảm thấy mình “mang ơn quê hương rất nhiều mà ông bà đã cho tôi tiếng nói trời phú bao đời nay vẫn cất lên tiếng mới. Và rồi cho đến phút cuối cùng tôi không còn sống được nữa, câu nói cuối cùng của cuộc đời tôi vẫn được nói ra bằng thứ ngôn ngữ máu thịt ấy”. Đối với một cây bút chuyên viết chính luận như Nguyễn Tuân, sự cầu kỳ, chỉn chu, tỉ mỉ, cẩn trọng khi chọn từ, lựa chọn từ ngữ để bộc lộ cảm xúc luôn là điều được thực hiện hết sức cẩn trọng: “Có tiếng có tiếng mỗi khi cất ra. chữ từ kho của dân mà dùng, phải gieo, phải quật, đo vang vang”.

Sau năm 1975, tình yêu tiếng Việt tiếp tục chảy trong nhiều thi phẩm của nền thơ ca hiện đại Việt Nam, trong đó có bài thơ “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ, sáng tác đầu những năm 1980. Bài thơ dài tới 60 câu, mang dáng dấp của một sử thi Việt Nam, mang trong nó hơi thở hào hùng như một bản anh hùng ca về tiếng nói của cha ông ta. Tất cả những âm hưởng của quê hương, của bao người lần lượt hiện ra qua những dòng thơ. Từ tiếng mẹ gọi trong sương khói hoàng hôn đến tiếng kéo củi nhọc nhằn, từ tiếng gọi đò trên sông vắng đến tiếng xé lụa đau lòng, từ dòng lũ ào ạt đến lời cha dặn… Vẻ đẹp của tiếng Việt là giàu âm hưởng. Giai điệu cho ta những cách xưng hô độc đáo mà các ngôn ngữ phương Tây không bao giờ có được: “Dấu ấp úng, dấu ngã ấp úng/ Dấu hỏi dựng lên ngàn năm khói lửa”. Sâu xa hơn, Lưu Quang Vũ đã xuyên Việt để đánh thức sự trở về cội nguồn, đánh thức sự lành lặn của những con người còn ở bên kia chiến tuyến. Phải chăng càng xa quê, tình yêu tiếng Việt càng nồng nàn, cháy bỏng hơn bao giờ hết. Và vượt qua mọi rào cản về địa lý, chính trị, nhà thơ tin tưởng rằng mọi người dân Việt Nam đều có thể trở về đoàn tụ trong tình yêu ngàn năm. Tám câu thơ khép lại tác phẩm đã chạm đến nơi sâu thẳm nhất trong mỗi chúng ta: “Ai lang thang chân trời góc biển/ Có thì thầm tiếng Việt từng đêm?/ Bên kia súng ai cầm súng khác?/ Đến tiếng Việt về với tôi / Ôi tiếng Việt tôi mắc nợ suốt đời / Quên mình phải ăn cơm / Trời xanh môi tôi ngậm ngùi / Tiếng Việt ơi tiếng Việt buồn quá.

Tiếng Việt trước thách thức bị pha trộn, biến dạng

Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, quan sát sự ứng dụng của tiếng Việt trong đời sống hàng ngày, từ cuộc sống hàng ngày đến những bài viết đăng trên báo chí, tác phẩm văn học nghệ thuật, chúng ta không khỏi xót xa trước việc sử dụng tiếng Việt trong nhiều trường hợp còn cẩu thả. và tùy ý.

Chẳng hạn, mới đây một tờ báo điện tử đăng bài phỏng vấn một lãnh đạo Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam với nhan đề: “Ghi nhận sự hy sinh của các liệt sĩ trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979”. Tiêu đề trên không phù hợp vì từ “nhận ra”. Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học), “nhận biết” được định nghĩa là: “Nhận biết, công nhận và ghi lại để chứng minh”. Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ hàng ngày của người Việt Nam, từ “ghi nhận” thường được dùng trong những trường hợp có sự thỏa thuận giữa hai bên có mối quan hệ tương đối bình đẳng với nhau, ví dụ: Nguyên tắc ghi nhận chi phí trong kế toán ; Add attribution to your video… Từ “ghi công” là một từ trung lập, đặt cảm xúc của người viết sang một bên, nên trong tiêu đề của bài viết trên, màu sắc mà nó mang lại cho người đọc khá hời hợt, nhạt nhòa và thiếu sự chính xác. sự chú ý cần thiết. Không chỉ tạo cảm giác bình đẳng giữa người nói và đối tượng được nói, từ “nhận ra” trong ngữ cảnh trên còn tạo cảm giác người nói cao hơn mình.

Với một sự kiện lịch sử quan trọng như trên, việc diễn đạt bằng từ “ghi công” như trong tiêu đề bài viết đã vô tình làm giảm đi công lao to lớn của các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Để chuyển tải tốt sắc thái, tình cảm, trong trường hợp này cần thay từ “nhận” bằng từ “khắc” hoặc “khắc”. Như vậy, một tiêu đề chuẩn hơn cho bài viết trên nên là: “Văn bia (hoặc bia ký) liệt sĩ hy sinh trong trận chiến đấu bảo vệ biên giới năm 1979”.

Những tít báo vi phạm lỗi ngữ pháp, không rõ ràng trong cách hiểu có thể thấy rất nhiều trên các trang báo điện tử, như: “Cô gái chứng kiến ​​nam thanh niên nhảy cầu tự tử”; “Hai thiếu nữ tình nguyện chết đuối”… Rồi những cái tít đánh lừa người đọc, câu view như: “Diễn viên Tự Long rải đinh trên quốc lộ” (thực ra là một cảnh trong phim), “Bán trinh cho 16 tỷ đồng, cô gái trẻ xây nhà cho người nghèo” (thực tế xảy ra ở nước ngoài, người viết quy đổi mệnh giá từ USD sang đồng Việt Nam).

Trong các ca khúc Việt Nam những năm gần đây, người nghe thường không khỏi nhăn mặt và cảm thấy khó nghe vì phần lời được viết quá dễ dãi, ngây ngô, tùy tiện, ngữ pháp rối rắm, chẳng hạn như: Xưa nay sau bao gian truân, nay Em có thể được yêu thương bên cạnh anh, nhưng sao em lại ngốc nghếch bay đi, mất đi tình yêu sẽ đau…” (Yêu trong lo lắng); “Vô duyên, cứ níu kéo. hic, nghĩ nát óc cả tháng rưỡi rồi, tiếc cho em yêu, phải tìm đúng thằng khùng trên khinh khí cầu” (Không phải dạng vừa đâu) v.v… Rồi tiếng Anh vô tội chèn vào thành ca từ của một bài hát tiếng Việt, nước ngoài đến nỗi bút danh của tác giả là tiếng Anh: “Tại sao lại là tôi nói dối… Tôi không thể chịu đựng những điều khó lường mà bạn đã làm với tôi.”

Tôi cho rằng, những sai lệch ngôn ngữ tiếng Việt mà chúng tôi nêu trên rất cần sự quan tâm chỉ đạo sát sao hơn của các cơ quan chức năng, các nhà kiểm duyệt, quản lý văn hóa, các nhà xuất bản, cơ quan báo chí để chung tay góp phần trả lại vẻ đẹp trong sáng, tinh tế của tiếng Việt. Kế đến là ý thức và lòng tự trọng của mỗi người cầm bút. Việc giáo dục tình yêu tiếng Việt phải được khơi dậy hàng ngày, từ những thế hệ trẻ bắt đầu cắp sách đến trường.

TS Ngôn ngữ học ĐỖ ANH V

Trong nhịp sống sôi động của nền kinh tế thị trường, cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các nền kinh tế, dường như có một cuộc cạnh tranh khác cũng không kém phần gay gắt. Đó là một cuộc cạnh tranh giữa các ngôn ngữ trên thế giới. Ở nước ta hiện nay, bên cạnh tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn… cũng được sử dụng rộng rãi. Giữa nhiều ngôn ngữ Tây, Ta, Âu, Á lẫn lộn, tiếng Việt dường như bị coi nhẹ? Thực trạng đó đã đặt ra câu hỏi, vì sao phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt? Và làm thế nào để giữ được sự trong sáng của tiếng Việt?

Bật mí:  Installing BackTrack 5 R3 inside Vmware Workstation mới nhất

Vì sao phải giữ sự trong sáng của tiếng Việt?

Trên dải đất Việt Nam hình chữ ét (S) kéo dài một dải từ biên giới Việt – Trung đến mũi Cà Mau đều thống nhất sử dụng một ngôn ngữ chung là tiếng Việt và một chữ viết chung là chữ Quốc ngữ. Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của người Việt Nam. Vì vậy, tiếng Việt là linh hồn, máu thịt của dân tộc Việt Nam chúng ta. Vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết là là người Việt Nam, chúng ta phải thông thạo tiếng Việt.

Với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước đã và đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược kinh tế mở, tăng cường quan hệ, hợp tác và giao lưu với nước ngoài. Ngoại ngữ cũng nhân đà đó ồ ạt vào nước ta. Vô hình chung tiếng Việt đã trở thành “món hàng” để cạnh tranh với ngoại ngữ. Đây vừa là động lực thúc đẩy tiếng Việt phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng đặt tiếng Việt trước nguy cơ mai một lớn.

Hiện nay, ở nước ta, khắp nơi người dân đua nhau học ngoại ngữ (Anh, Pháp, Hoa…) nhất là ở các thành phố, thị xã, thị trấn. Biển quảng cáo dạy ngoại ngữ mọc lên khắp nơi. Các trung tâm dạy ngoại ngữ cũng mọc lên như nấm. Trong khi đó, người ta không mấy mặn mà với tiếng Việt. Ngay trong giao tiếp giữa người Việt với người Việt, người ta cũng dùng ngoại ngữ. Họ coi việc sử dụng ngoại ngữ ở mọi nơi, mọi lúc, mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh… như một “mốt” không thể thiếu.

Các nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra nhiều biểu hiện sử dụng tiếng Việt tùy tiện, xu hướng lai căng, “lạm phát” sử dụng yếu tố ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, “sáng tạo”. mất nguyên tắc, tạo ra những điều kỳ quặc trong sử dụng ngôn ngữ, thậm chí đi ngược lại thuần phong, mỹ tục, truyền thống của dân tộc. Họ nói chuyện bằng tiếng Việt và thỉnh thoảng “lắc” vài câu tiếng Anh. Họ nói chuyện trên mạng bằng một thứ ngôn ngữ “cào cào” mà họ không hiểu…

Nổi lên như một cách truyền thông thời thượng được đông đảo giới trẻ lăng xê, có thể bắt gặp nó hàng ngày từ nhà ra ngõ, từ công sở đến trường học: ”Đầu lâu làm gì?” – ”Ừ, trên Hà Đông đường phố”; ”Bắc Cạn đi anh ơi”; “Cả lớp, Lệ Quyên vào chơi đi”; ”Em cà rốt quá, biết tay Lê Văn Sỹ đó thì hà cớ gì phải mở nhiều bia cho anh Lục Tốn”; “Trần Tiến hãy lên, không có anh hùng núp”; ”Ê, bao nhiêu tiền, bỏ Campuchia hả?”; ”Từ đây đến đó, và Natasha không có bạn”; ”Thôi, tôi là Lương Văn Can, đừng vào đó”; ”Hôm nay trông hơi toilet”; ”Lát nữa em đi siêu thị, nhớ mua chai nước mắm”; “Bố mua đồ chơi hoành tráng quá”;…

Hay khi tạo ra những tổ hợp biến danh từ thành tính từ chưa có trong từ điển: ”Một cảm giác rất yomost”, ”một phong cách rất bê bối”. Bên cạnh đó, những biểu cảm ăn sâu đến mức là câu “cửa miệng” của nhiều bạn trẻ: Từ “spoil” +… như: Mệt quá, buồn ngủ quá, xinh quá…

Chỉ liệt kê vài ví dụ trên thôi cũng đủ thấy việc sử dụng tiếng Việt hiện nay của một bộ phận giới trẻ nói riêng và một bộ phận người Việt Nam nói chung đang có vấn đề.

Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng, trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam mở rộng hội nhập, việc học ngoại ngữ là hết sức quan trọng và cần thiết. Nhưng học ngoại ngữ không phải để khoe khoang, khoác lác, dùng không đúng nơi, đúng chỗ, không đúng đối tượng, hoàn cảnh. Học ngoại ngữ là để giao tiếp với người nước ngoài thuận lợi, giúp ích cho công việc, tìm hiểu văn hóa các dân tộc trên thế giới… Người Việt Nam học ngoại ngữ và sử dụng ngoại ngữ theo kiểu “bạn học”. Thà rằng, là “sính ngoại”, không những làm nghèo đi sự giàu đẹp của tiếng mẹ đẻ mà còn làm cho nền văn hóa dân tộc bị tụt hậu. Giả sử tất cả người Việt Nam đều làm như vậy thì người Việt Nam sẽ ra sao?

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc - Ảnh 1.

Tổ quốc không chỉ là lãnh thổ, chủ quyền mà Tổ quốc còn là tiếng nói, chữ viết.

Làm sao để giữ sự trong sáng của tiếng Việt?

Mỗi quốc gia có ngôn ngữ riêng của mình. Người Việt nói tiếng Việt. Người Anh nói tiếng Anh. Người Pháp nói tiếng Pháp… Không thể đánh đồng các ngôn ngữ trên. Vì vậy, là người Việt Nam, trước hết chúng ta phải thông thạo tiếng Việt. Có thông thạo tiếng Việt mới hiểu được cái hay, cái đẹp của tiếng Việt. Mặt khác, sử dụng thành thạo tiếng Việt sẽ giúp chúng ta học ngoại ngữ dễ dàng hơn.

Nói và viết là phương tiện giao tiếp. Vì vậy, khi giao tiếp (dạng trực tiếp hay gián tiếp), chỉ cần nói sai, viết sai là đối tượng giao tiếp hiểu sai vấn đề cần trao đổi. Tôi đã có cơ hội gặp một người nước ngoài đến Việt Nam để tìm hiểu về con người và văn hóa Việt Nam. Anh nhìn thấy trên biển quảng cáo của một cửa hàng có dòng chữ: “Honda Milk”. Thế là anh tìm đến chủ cửa hàng để hỏi mua “Sữa Honda”, với lý do đơn giản là anh chưa thấy loại sữa này bao giờ. Như vậy, chỉ cần một sơ xuất nhỏ của người viết hoặc người nói cũng có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc cho người đọc, người nghe.

Trước đây, có ý kiến ​​cho rằng do hoàn cảnh chiến tranh nên việc học tiếng Việt ở trường phổ thông chưa được thực hiện bài bản, việc học sinh yếu tiếng Việt chỉ là tạm thời. Thiết nghĩ, khi đất nước hòa bình, khi việc học và dạy tiếng Việt ở trường phổ thông đi vào ổn định, đi vào nề nếp thì học sinh sẽ sử dụng thành thạo tiếng Việt. Trên thực tế, chiến tranh đã kết thúc từ lâu. Ngành giáo dục nước nhà đã có gần 50 năm hòa bình xây dựng và phát triển. Tuy nhiên, không chỉ học sinh mà ngay cả học sinh hiện nay cũng còn yếu môn Tiếng Việt. Trên sách báo, trên các phương tiện truyền thông, đâu đâu cũng thấy người ta mắc lỗi chính tả, dùng từ, cấu trúc câu… Sự thật là dù học phổ thông nghiêm túc, nhưng khi lên đại học họ vẫn mắc lỗi đó. học sinh còn phải học và rèn luyện thêm về Tiếng Việt.

Bên cạnh đó, chúng ta đang sống trong thời kỳ đổi mới, mở cửa, giao lưu văn hóa, hơn bao giờ hết là công dân Việt Nam, chúng ta phải có trách nhiệm học để hiểu, giữ gìn và phát huy bản sắc của mình. văn hóa dân tộc. Muốn vậy, điều đầu tiên chúng ta phải sử dụng thông thạo chữ quốc ngữ. “Có như vậy mới mở cửa mà không sợ ngoại xâm, đổi mới mà không mất gốc, giao lưu văn hóa mà giữ gìn và phát huy bản sắc của dân tộc”. Học tiếng Việt để nói đúng, viết đúng và nói tốt tiếng Việt trong cuộc sống, trong nghề nghiệp… chẳng phải là một cách thể hiện tình yêu đất nước trong thời bình hay sao? Bởi vì, Tổ quốc không chỉ là lãnh thổ, chủ quyền mà Tổ quốc còn là tiếng nói, chữ viết.

Tiếng Việt được ví như dòng máu trong cơ thể người Việt Nam. Dòng máu đó khô cạn, cơ thể kia lập tức mất đi sức sống. Tiếng Việt là sức sống, là niềm tin yêu và là niềm tự hào trong cuộc đời của mỗi chúng ta. Tiếng Việt là linh hồn, là quê hương, đất nước và con người Việt Nam. Vì vậy, có ý kiến ​​cho rằng: “Mất chữ Tổ quốc, chẳng những là mất nước, mà còn là mất cả dân tộc”.

Bảo vệ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị nhân văn Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Tập trung nghiên cứu, nhận diện và thực hiện việc xây dựng hệ giá trị dân tộc, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với bảo tồn và phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”. Một trong những trọng tâm được Đại hội XIII đề ra là: “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, dân tộc phồn vinh trường tồn; phát huy các giá trị văn hóa, sức mạnh của con người Việt Nam trong sự nghiệp kiến ​​quốc”. xây dựng và bảo vệ”.

Bật mí:  Download Avast Free Antivirus - SinhVienIT.net mới nhất

Các chuyên gia văn hóa cho rằng, trong quá trình chuyển đổi, để đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, vấn đề xây dựng hệ giá trị dân tộc, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị nhân loại ngày càng được đặt ra. Gia đình và hệ giá trị con người Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng để định hướng, dẫn dắt, đánh giá và điều chỉnh hành vi của xã hội. Tiến bộ vật chất không phải lúc nào, ở đâu cũng mang lại hạnh phúc cho con người nếu không có hệ giá trị chuẩn mực nuôi dưỡng đời sống tinh thần của xã hội theo hướng chân, thiện, mỹ.

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng chính là bảo vệ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị con người Việt Nam nhằm định hướng, dẫn dắt, đánh giá, điều chỉnh hành vi của con người và toàn xã hội hướng tới chân lý. , tốt, đẹp.

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc - Ảnh 2.

Văn hóa là nội lực quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Hơn nữa, xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam là nhiệm vụ gắn liền với xây dựng hệ giá trị gia đình, hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị quốc gia. Thực chất, đó là sự tìm kiếm một hệ giá trị tin cậy với những chuẩn mực lý tưởng của con người, nhằm khơi dậy ý chí vươn lên, định hướng cho mỗi người và toàn xã hội phát triển lành mạnh, phát triển và lớn mạnh. phát huy tối đa tiềm năng, thu hút ngoại lực và tinh hoa văn hóa, văn minh nhân loại…

Trong bài phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Tuy theo nghĩa rộng, theo nghĩa hẹp, khi chúng ta nói về văn hóa, chúng ta muốn nói đến những gì tinh hoa, tinh túy nhất, được chắt lọc, kết tinh, rèn giũa thành những giá trị tốt đẹp nhất, cao quý nhất, độc đáo nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân ái, bác ái, tiến bộ…”.

Việt Nam là một đất nước có hàng nghìn năm lịch sử, trải qua bao biến đổi, thăng trầm đã tích tụ, sáng tạo và phát huy nhiều giá trị, bản sắc văn hóa riêng, tạo thành hồn cốt của dân tộc. Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của các Đại hội trước về văn hóa, phát triển văn hóa, con người Việt Nam, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, đời sống văn hóa lành mạnh, đồng thời phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế”. Đó chính là niềm tin và khát vọng phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Hai năm trước, PGS. GS.TSKH Bùi Hiền công bố phần 2 công trình nghiên cứu cải tiến tiếng Việt sau 40 năm nghiên cứu. Ông đề xuất một cách viết và cách phát âm khác với thông thường. Thông báo và đề xuất này khiến dư luận “bất ngờ” khi cách sử dụng tiếng Việt khác hoàn toàn so với thông dụng. Mới đây nhất, bộ “Chữ Việt song hành 4.0” được kết hợp từ hai tác phẩm “Chữ Việt nhanh” và “Biển báo” của hai tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tử Bình đã chính thức được cấp chứng nhận độc quyền. Bản quyền từ Cục bản quyền tác giả. Trước thông tin này, trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều phản hồi, ý kiến ​​trái chiều và không ít băn khoăn, lo ngại về việc sử dụng tiếng Việt hiện nay.

Chữ viết và tiếng nói là tài sản vô cùng quan trọng và quý giá của bất kỳ dân tộc nào trên thế giới, là niềm tự hào của mỗi dân tộc. Tiếng Việt của người Việt Nam cũng vậy. Tiếng nói và chữ viết của người Việt Nam có nguồn gốc bản địa, được cha ông sáng tạo, gìn giữ và hoàn thiện trong quá trình tạo dựng cuộc sống và phát triển cộng đồng xã hội. Trải qua các triều đại lịch sử, qua các giai đoạn phát triển khác nhau, tiếng Việt đã trở thành hồn cốt của dân tộc, có sức sống lâu bền trong tâm hồn, lối sống, nếp nghĩ của người Việt Nam. Dù sống ở bất cứ miền nào trên lãnh thổ Việt Nam hay sống xa quê hương, những người mang dòng máu Việt không quên tiếng của tổ tiên, tiếng của dân tộc mình.

Trải qua thời gian, dân tộc Việt Nam đã không ngừng giữ gìn và nâng cao tiếng Việt, làm cho tiếng nói của dân tộc ngày càng giàu đẹp, luôn là niềm tự hào của người Việt Nam trước bạn bè quốc tế. Để có một hệ thống quy tắc viết và nói tiếng Việt chuẩn mực như ngày nay, tiếng Việt chúng ta đã phải trải qua nhiều cải tiến trên các phương diện cụ thể như phát âm, chính tả, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ. … Trên cơ sở loại bỏ, sửa chữa những yếu tố không phù hợp, khó dùng trong tiếng Việt để tạo ra cách nói, cách viết mang tính phổ thông, ai cũng có thể sử dụng được. Đồng thời, chúng ta cũng không ngừng đổi mới, sáng tạo những yếu tố mới trong tiếng Việt nhằm làm cho vốn từ, vốn câu và cách nói của người Việt phong phú, đa dạng, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Hệ thống quy tắc nói và viết tiếng Việt đã được chuẩn hóa thành các quy phạm pháp luật để Nhà nước ban hành cho toàn dân thực hiện. Các quy định này được đưa đến người dân theo một trình tự, không áp đặt, ép buộc. Đó là những gì chúng tôi dạy học sinh từ mầm non đến các cấp giáo dục đại học. Tùy theo tâm lý lứa tuổi, các trường có thể dạy phát âm, dạy viết theo chuẩn tiếng Việt. Dần dần, hệ thống quy tắc, quy chuẩn về chuẩn mực tiếng Việt đã đi vào đời sống của người dân, mỗi người dân nói, viết tiếng Việt theo chuẩn mực quy định và có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. như làm giàu thêm của cải vô cùng quý giá của dân tộc mình. Dù có sáng tạo, cải tiến tiếng Việt thì vẫn phải đảm bảo nguyên tắc trên cơ sở quy định chung, trên cái cốt lõi sẵn có chứ không thể thay đổi hoàn toàn.

Trở lại với những công trình nghiên cứu gần đây đã nêu ở đầu bài viết, nhìn qua chúng ta thấy các tác giả đã có ý thức và dày công sáng tạo tiếng Việt, đặt ra những câu hỏi về việc sử dụng tiếng Việt. Tiếng Việt trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay. Tuy nhiên, có thể thấy sự sáng tạo này khác với cách viết và cách phát âm tiếng Việt mà chúng ta đang dùng chứ không đơn thuần là sửa đổi một hai từ, một hai chữ cái hay một cách phát âm nào đó. nghe như chúng ta đã làm từ lâu trong hành trình cải tiến tiếng Việt. Vậy ở một góc độ nào đó, liệu bộ sản phẩm này có một lần nữa gây ra những ý kiến ​​trái chiều và tranh luận trong dư luận?

Trước hết, chúng ta cần nhận thức rõ tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam, là tài sản quốc gia và việc sử dụng tiếng Việt, kể cả nói và viết đều phải tuân theo một chuẩn mực nhất định. Việc ban hành quy định sử dụng chuẩn tiếng Việt là của Nhà nước, không cá nhân, tổ chức nào có quyền thay thế quy định sử dụng tiếng Việt đã trở thành quy tắc chung của toàn dân. Đồng thời, phải cải tiến, sáng tạo tiếng Việt trong quá trình sử dụng nhưng không được thay đổi hoàn toàn diện mạo, không gây xáo trộn tâm lý người dân. Bởi lẽ, việc đưa các quy tắc nói và viết tiếng Việt vào người dân, đến với mỗi người không phải là chuyện dễ một sớm một chiều mà phải trải qua một quá trình học hỏi từ khi người ta mới biết nói. Thực hành viết cho đến khi bạn có thể nói và viết trôi chảy. Trong việc cải tiến, sáng tạo tiếng Việt, chúng ta có thể chấp nhận việc cải tiến tiếng Việt để sử dụng cho phù hợp với đặc thù của ngành, nhóm ngành. Đơn cử như việc sử dụng tiếng Việt không dấu, viết tắt, ký hiệu gắn với các lĩnh vực đặc thù như công nghệ thông tin, khoa học… “Tiếng Việt, ngôn ngữ quảng cáo sử dụng chưa đúng… ít nhiều đã và đang ảnh hưởng đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Bật mí:  Phân tích đoạn trích "Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi" hay nhất mới nhất

Giữ gìn và làm giàu thêm tiếng Việt là trách nhiệm của toàn dân. Tuy nhiên, dù xã hội, khoa học công nghệ có thay đổi đến đâu, chúng ta cũng phải nhận thức sâu sắc và kiên quyết không làm méo mó, lai căng tiếng Việt trong quá trình sử dụng. Mỗi người cần nhận thức rõ việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt phải dựa trên cơ sở nói, viết đúng chuẩn về phát âm, chính tả, từ ngữ, ngữ pháp và phong cách ngôn ngữ. Cần loại bỏ những yếu tố không phù hợp, ảnh hưởng đến tính chuẩn mực và trong sáng của tiếng Việt. Mỗi người dân cần nêu cao trách nhiệm giữ gìn và làm giàu thêm tiếng Việt để chúng ta luôn tự hào về tiếng Việt, như lời dạy của Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: “Tiếng nói là tài sản vô cùng lâu đời và vô giá của dân tộc. dân tộc, chúng ta phải giữ gìn, nâng niu, làm cho nó ngày càng được nhiều người biết đến”.



Soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

I. Sự trong sáng của tiếng Việt

Quảng cáo

1. Khi nói, viết phải tuân thủ các chuẩn mực, quy tắc tiếng Việt

+ Chuẩn mực: không phủ nhận sự biến đổi linh hoạt, tiếp thu cái mới, sáng tạo

2. Thanh tịnh không dung nhiễm tạp chất. Sự trong sáng của tiếng Việt không cho phép pha trộn, lai tạp, sử dụng tùy tiện các yếu tố ngôn ngữ khác

3. Minh bạch thể hiện trong văn hóa và lịch sử lời nói

II LUYỆN TẬP

Bài 1 (Trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 1)

Quảng cáo

Nhân vật Những từ dùng để mô tả đặc điểm nhân vật
Thùy Vân chị tốt Yêu và lắng nghe bạn, người phụ nữ xinh đẹp và tốt bụng
Trang nghiêm Người rất trung thành Sống với Thúy Vân mà lòng không nguôi nỗi nhớ Thúy Kiều
Huân Thu Một người phụ nữ dũng cảm khác thường, biết điều gì là tàn nhẫn Một người phụ nữ nham hiểm luôn hành động bằng mọi cách để đạt được mục đích của mình
thức tỉnh khó chịu Luôn nhún nhường, cúi đầu trước vợ
Từ Hải Đột ngột xuất hiện, đột ngột biến mất như một vì sao lạ Là ân nhân, người tình của Kiều, rồi cũng “chết” vì Kiều
Tú Bà Bóng nhờn Sống bằng nghề bán bột người
Mã sinh viên râu mượt Bản chất tàn nhẫn, thương gia thể hiện ngay bằng hành động của mình
Kẻ biến thái Chu đáo, nhẹ nhàng Bề ngoài hào nhoáng, nhưng gian dối và dối trá
Bắc Bá, Bắc Hạnh Thề thề Sự lừa dối, sự lừa dối

Quảng cáo

– Có thể thay thế một số từ miêu tả nhân vật của tác giả

– Từ ngữ để miêu tả các nhân vật như Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Tú Bà khó thay đổi, bởi không ai dùng từ chuẩn xác, sắc sảo như Nguyễn Du.

Bài 2 (trang 34 SGK ngữ văn tập 1)

Tôi đã đưa ra ví dụ về một dòng sông, một dòng sông vừa chảy vừa phải tìm dòng nước khác trên đường đi của nó. Dòng ngôn ngữ cũng vậy, một mặt phải giữ được bản sắc vốn có của dân tộc, nhưng cũng không được bác bỏ, phủ nhận những gì thời thế mang lại.

Bài 3 (trang 34 sgk ngữ văn tập 1)

Đoạn trên lạm dụng từ nước ngoài: file, hacker, fan

Có thể thay thế bằng các từ tiếng Việt: file, hacker, fan

Quảng cáo

Xem thêm những bài văn mẫu lớp 12 ngắn, hay:

Mã giảm giá Shopee mới nhất Mã số

CHỈ TỪ 250K CÓ 1 BỘ HỒ SƠ DU HỌC, THI, KHÓA HỌC BẤT KỲ, VIETJACK HỖ TRỢ COVID

Giáo án, đề thi, bài giảng powerpoint, khóa học dành cho giáo viên và học sinh lớp 12, trọn bộ sách cánh diều, kết nối tri thức, chân trời sáng tạo tại https://tailieugiavien.com.vn/ . Hỗ trợ Zalo VietJack Official




Các bộ đề lớp 12 khác

Download.vn sẽ cung cấp tài liệu Soạn 12: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việtcực kỳ hữu ích.

sự trong sáng của tiếng việt

Hi vọng có thể giúp ích cho các em học sinh lớp 12 khi học soạn bài của mình. Xin vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

Soạn 12: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

I. Sự trong sáng của tiếng Việt

Sự trong sáng của tiếng Việt thể hiện ở một số mặt cơ bản sau:

1. Tiếng Việt có hệ thống chuẩn mực và quy tắc chung về phát âm, chữ viết, dùng từ, đặt câu, cấu trúc lời nói, cách viết…

– Những chuẩn mực, quy tắc đó là cơ sở để diễn đạt rõ ràng, mạch lạc nội dung tư tưởng, tình cảm của mỗi người và để lĩnh hội đầy đủ, chính xác nội dung mà người khác truyền đạt.

– Sự trong sáng của tiếng Việt trước hết được bộc lộ ở hệ thống những chuẩn mực, quy tắc chung, trong việc tuân thủ những chuẩn mực, quy tắc đó. Nói, viết đúng chuẩn mực, quy tắc tiếng Việt sẽ đảm bảo sự trong sáng của lời nói. Ngược lại, nói hay biết sai quy tắc, sai tiêu chuẩn là không trong sáng.

2. Tinh khiết không dung thứ tạp chất

– Sự trong sáng của tiếng Việt không cho phép pha trộn, lai tạp, nghĩa là không cho phép sử dụng tùy tiện, không cần thiết các yếu tố của ngôn ngữ khác.

– Tuy nhiên, nếu tiếng Việt không có yếu tố để diễn đạt thì có thể mượn từ tiếng nước ngoài. Việc vay mượn như vậy xảy ra ở mọi ngôn ngữ và cần thiết vì nó làm phong phú thêm cho mỗi ngôn ngữ.

3. Sự trong sáng của tiếng Việt còn thể hiện ở lời ăn tiếng nói có văn hóa, lịch sự. Nói năng thô tục, vô văn hóa, mất lịch sự đồng nghĩa với việc tiếng Việt mất đi sự trong sáng vốn có.

Bản tóm tắt: Trong sáng là một phẩm chất của tiếng Việt. Phẩm chất đó được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: tính quy phạm, chuẩn tắc của tiếng Việt; không lai, tạp và lịch sự, văn hóa trong lời ăn tiếng nói.

II. Luyện tập

Câu hỏi 1. Phân tích sự chính xác trong cách dùng từ của Hoài Thanh và Nguyễn Du khi chỉ ra ngoại hình/tính cách tiêu biểu của các nhân vật trong truyện Kiều.

– Trang nghiêm:

  • Từ để mô tả: rất trung thành
  • Đặc điểm nhân vật: Trung thành với Thúy Kiều (Đau lòng biết Kiều bán mình chuộc cha, Dù lấy Thúy Vân vẫn nhớ Kiều…)

– Thùy Vân

  • Từ để miêu tả: chị gái tốt
  • Tính cách nhân vật: hiền lành, ngoan ngoãn (nhận trả mối tình với Kim Trọng thay cho em gái)

– Hoàn Thư:

  • Từ miêu tả: biết thế nào là nghiệt ngã
  • Tính cách nhân vật: độc ác, hà khắc (đánh ghen và trừng trị Thuý Kiều, thông minh hối lỗi trong việc báo thù)

– Sự khích lệ:

  • Từ miêu tả: sợ vợ
  • Tính cách nhân vật: khi thấy Thúy Kiều bị hành hạ chỉ biết đứng nhìn.

– Từ Hải:

  • Từ ngữ miêu tả: chợt hiện, chợt biến như sao lạ.
  • Đặc điểm nhân vật: thời gian xuất hiện ngắn, giúp Kiều trả thù.

– Tú Bà

  • Từ ngữ mô tả: Màu da “xám tái”
  • Đặc điểm tính cách: Thể hiện thân phận nhơ nhớp do sống lâu năm bằng nghề bán nhang.

– Mã số sinh viên

  • Từ miêu tả: Khuôn mặt “râu ria”
  • Đặc điểm tính cách: Thể hiện sự xuất hiện của một kẻ lừa đảo

– Kẻ biến thái

  • Các từ mô tả: “chải chuốt”, “dịu dàng”
  • Đặc điểm tính cách: Bộ dạng trau chuốt, giả tạo để lừa gạt các cô gái.

– Bạc Bá, Bạc Hạnh

  • Từ ngữ miêu tả: miệng chửi “xé”
  • Đặc điểm tính cách: Thể hiện là kẻ dối trá, lừa lọc.

Câu 2. Đoạn dưới đây của Chế Lan Viên đã bị lược bỏ. Đặt các dấu câu cần thiết vào những chỗ thích hợp để đảm bảo tính rõ ràng của đoạn văn.

Gợi ý:

Tôi có một ví dụ về một dòng sông. Dòng sông vừa chảy vừa phải tiếp nhận những dòng nước khác trên đường đi của nó. Dòng ngôn ngữ cũng vậy, một mặt nó phải giữ được bản sắc vốn có của dân tộc, nhưng cũng không được bác bỏ, phủ nhận những gì thời thế mang lại.

Câu 3. Nhận xét về cách dùng từ nước ngoài trong trường hợp sau. Hãy thay thế những từ mà bạn cho là lạm dụng bằng những từ tiếng Việt tương ứng.

– Trong đoạn văn sau, từ nước ngoài được dùng một cách lạm dụng làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.

– Sửa chữa:

  • tập tin: tập tin
  • tin tặc: tin tặc

Bài viết được sgkphattriennangluc.vn tham khảo từ nguồn:
https://luatminhkhue.vn/nghi-luan-giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet.aspx#:~:text=S%E1%BB%B1%20trong%20s%C3%A1ng%20trong%20ti%E1%BA%BFng,trong%20s%C3%A1ng%20c%E1%BB%A7a%20ti%E1%BA%BFng%20Vi%E1%BB%87t.
https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/cac-van-de/giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet-trong-xa-hoi-hien-dai-674258
https://suretest.vn/cung-co/giu-gin-su-trong-sang-cu%CC%89a-tieng-viet-7959.html
https://ictvietnam.vn/giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet-chinh-la-giu-gin-va-bao-ton-gia-tri-van-hoa-dan-toc-54338.html
https://dangcongsan.vn/cung-ban-luan/giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet-552099.html
https://mega.vietnamplus.vn/giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet-5364.html
https://vietjack.com/soan-van-lop-12/giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet.jsp
https://download.vn/soan-bai-giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet-51925
https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/tieng-viet-su-trong-sang-va-van-de-chuan-hoa-974905.ldo